Samstag, 10. Januar 2026

















 Übersetzung ins Deutsch folgt dem vietnamesischen Text. Gemini übersetzt ziemlich gut.


Chuyện hai người bạn vong niên

Giờ hai ông bà đã về miền tiên cảnh từ lâu. Ông Günther (*19.5.1922), mất ngày 12.4.2007), bà Katharina (*4.11.1924) mất 7 năm sau đó, đúng hôm sinh nhật 90. Bà ngã quỵ ngay tại bữa tiệc đãi khách và ra đi rất nhanh, điều mà không phải người già nào cũng được „may mắn“ đó.

Khởi đầu – ông Günther Zetzsche

Tôi quen ông bà G&K cuối năm 1982 hay đầu năm 1983 gì đó, qua cô Tư. Cô Tư quen ông G khi làm việc trong khu nghỉ dưỡng Baden-Baden mà năm nào ông cũng đến nghỉ. Nghĩa là tình bạn với ông 25 năm và bà 32 năm.

Ông là cựu quân nhân thế chiến 2, đã có vợ nhưng ly hôn và có với bà vợ trước 2 cô con gái sinh đôi. Ông bị mất 1 chân trong những ngày cuối cùng của cuộc chiến khi cùng đồng đội cố cầm chân quân Liên Sô và chờ quân Đồng Minh đến „bàn giao“ trước lúc Hitler đầu hàng và tự sát vì „thà bị Đồng Minh Anh Pháp Mỹ chiếm đóng còn hơn bị Liên Sô như các quốc gia Đông Âu như Tiệp Khắc, Hungary, Ukraine, Ba Lan, 3 nước vùng Baltic ...

Ông kể, sau khi xuất viện, lúc đó đã có hòa bình ở Âu Châu, ông ghi danh học đại học sư phạm ở Flensburg ở gần vùng cực Bắc. Vừa đi học vừa đi làm soát vé trên xe lửa. Lúc đó kinh tế Đức còn kiệt quệ sau 6 năm chiến tranh tàn khốc.

Ra trường, ông về vùng Felsberg-Gensungen làm thầy giáo dạy trung học. Ngôi làng này cũng là quê hương bà Katharina, cũng là cô giáo nhưng dạy tiểu học. Bà K từng có hôn phu, người lính bị Hitler đưa sang Nga và đi mãi không về và cũng không có tin tức gì gửi về gia đình như mấy trăm ngàn thanh niên Đức thời đó.

Ông bà gặp nhau và kết hôn ở tuổi gần xế chiều vào năm 1972 nên không có con với nhau. Hai người sống với nhau rất hạnh phúc cho đến cuối đời trong ngôi nhà xinh xắn trên sườn núi do bà „đích thân đặt lên từng viên gạch“ với lương cô giáo của bà.

Sau khi Cộng Hòa Liên Bang Đức (BRD) được thành lập sau thế chiến, với sự thông minh, cần cù, kỷ luật cao, kinh tế Đức nhanh chóng phục hồi và phát triển như vũ bão. Từ đống tro tàn 1945 mà thành phố Hamburg lớn thứ hai bị tàn phá đến 85%, nước Đức đã trở thành siêu cường sau 15 năm tái thiết.

Nhờ cơ chế dân chủ, phúc lợi do kinh tế mang lại được chia khá đồng đều cho mọi tầng lớp dân chúng. Lương giáo viên rất cao nên bà K mới sắm nổi căn nhà riêng. Còn nhớ, lần đầu tiên ngủ lại nhà ông bà, Trúc Giang, đứa con lớn, nói là nó chưa từng ở ngôi nhà nào đẹp như vậy. Ông bà nghe, cười ha hả thích thú.

Là thương binh, ông Günther được hưởng chính sách đền bù rất hậu hĩnh của chính phủ Đức nên mỗi năm mới có thể đi nghỉ dưỡng mấy tuần lễ ở thành phố Baden-Baden giàu có và nổi tiếng ở miền Nam nước Đức. Năm 1983 hai ông bà đã thuộc thành phần trung lưu dù đã về hưu.

Tính ông G thích kết giao. Ai ông cũng dễ dàng kết bạn và nếu tốt với ông thì cũng được ông nhiệt tình đáp lại. Với tính cách đó ông quen biết với rất nhiều người. Cô em 4 của tôi là 1 trong số đó. Khi biết cô 4 mới đến Đức không lâu và còn quá trẻ, ông khuyên đi học nghề y tá là nghề Đức rất cần. Rất nhiều phụ nữ Nam Hàn đang làm y tá ở Đức vào thời gian đó.

Và ông G đã sốt sắng lo mọi giấy tờ để cô 4 có thể học ở Göttingen không lâu sau đó.

Bắt đầu tình bạn với hai cụ già giáo viên

Đầu năm 1983 tôi về Wolfhagen học khóa tú tài cho dân ngoại quốc, nơi chỉ cách Felsberg-Gensungen hơn 30km. Biết cô 4 có người anh ở gần ông, ông đã liên lạc và đến chở tôi và T tới nhà ông chơi. Không ngờ lần đó đã bắt đầu tình bạn vong niên kéo dài 1/4 thế kỷ với ông và 32 năm với bà sau ông từ trần.

Ngoài 1 – 2 lần/năm viếng thăm ông bà, ông hầu như tuần nào cũng gọi điện thoại hỏi thăm và kể đủ thứ chuyện mới, cũ. Ông có rất nhiều mối liên hệ bạn bè nên mỗi năm vào dịp Giáng Sinh ông gửi cả trăm „Weihnachtsbrief“ (thư GS) đi khắp nơi. Năm nào tôi cũng nhận 1 lá. Ban đầu rất khó đọc vì chữ ông ngoằn ngoèo, dính liền với nhau như thói quen viết của người Đức, nhưng dần rồi cũng quen. À, ngoài thăm viếng, điện thoại, tháng nào ông cũng viết ít nhất 1 lá thư cho tôi – dĩ nhiên mình cũng viết trả lời ông. Trong các dịp đặc biệt khác như sinh nhật, Tết ta, Phục Sinh ... lúc nào cũng có 1 lá thư từ ông.

Đôi vợ chồng Đức đặc biệt hào phóng, nhiệt tình

Người Đức xài tiền rất cẩn thận. Đi chợ, nhiều khi người ta chờ thối tiền lại vài xu (Pfennig – Cent sau này) dù cho giàu bao nhiêu. Đi ăn với nhau thì thường mạnh ai nấy trả. Thế nhưng ông bà rất rộng rãi về tiền bạc với chúng tôi. Lần nào lái xe đến thăm, ông bà cũng nhất định trả tiền xăng cho 2 chuyến đi và về, ngoài ra còn đãi ăn nhà hàng, quà cáp. Từ chối cách nào cũng không được. Tụi nhỏ thì khỏi nói, lúc nào cũng có quà đầy đủ. 4 đứa nhỏ – thêm An và Nam con cô Tư chắc còn nhớ những lúc tìm quà cất giấu ngoài vườn vào dịp lễ Phục Sinh (Ostern).

Lúc đám cưới tụi tôi, nhận được thiệp mời ông bà đã rất vui. Quà cưới của ông bà là quà có giá trị nhất trong số bà con họ hàng và quan khách. Tôi còn nhớ rất rõ vì lúc đó rất kinh ngạc và cảm động. Ngoài bộ tự điển kỹ thuật 5 cuốn đắt tiền, bộ truyện cổ tích Andersen 3 quyển và bộ Bettzeug khăn trải giường, bao mền gối cũng rất đắt tiền, ông bà còn tặng thêm 1000 Đức Mã D-Mark vốn là số tiền khá lớn thời đó.

Ngoài ra, khi tôi bị bệnh lao và phải nằm nhà thương gần 1 tháng vào năm 1987, ông bà đã vượt 330km đến thăm, lại đãi nhà hàng – mà tôi còn nhớ là ở thương xá Hamburger Strasse – Đã vậy còn „ép“ phải mua cái áo khoác mùa đông (Jacke) dầy cộm bằng lông ngỗng (Daunenjacke) – lúc đó mới có nên rất mắc, còn nhớ giá hơn 200DM. Đến lúc đó và nhiều chục năm sau tôi chưa bao giờ mua chiếc áo nào có giá cao như vậy.

Sau khi ông ra đi, bà K đã tặng tôi 1 phong bì, bên trong là 5000€ mà bà bảo là để tôi mua 4 cái vé máy bay về thăm nhà. Và bà đã để lại cho tôi một bộ chén dĩa bằng sứ rất đẹp và đắt tiền mà chúng tôi từng sử dụng mỗi khi đến nhà thăm ông bà.

Cũng cần nói thêm, tuy ông bà có nhiều mối liên hệ và thường xuyên lìên lạc thư từ, điện thoại nhưng đến Felsberg-Gensungen để thăm viếng, ở lại 1, 2 ngày thì rất hiếm. Hai cô con riêng của ông G cũng rất lạt lẽo với ông dù ông cho rất nhiều tiền khi mua nhà và trong những dịp lễ khác. Đến nỗi cha mất, 2 cô đó cũng không về chịu tang.

Ông bà từng „mua“ (freikaufen) một thanh niên bị chế độ Đông Đức (Cộng Hòa Dân Chủ Đức) bắt giam vì tội gì tôi không rõ. Freikaufen nghĩa là trả một số tiền khá lớn nào đó thì người tù ĐĐ được thả ra khỏi tù và được đưa sang Tây Đức vĩnh viễn.Tôi từng gặp Ronald ở nhà ông bà. Ông bà cũng giúp anh ta rất nhiều trong những ngày chân ướt chân ráo sinh sống ở miền Tây Đức sau khi rời Đông Đức. Thế nhưng Ronald cũng không đến dự đám tang của bà K, hình như đám tang ông G cũng không.

Noel năm nào ông bà cũng gửi nhiều thùng đồ, quà cáp cho thân nhân, bạn bè bên Đông Đức – trong đó có cả cam tươi vì bên đó chỉ có trái cây địa phương. Hàng nhập từ các xứ ấm như chuối, cam quít, dưa hấu, Kiwi ... hoàn toàn không có trên các kệ cửa hàng mậu dịch.

Bà Tante Katharina

Trong mối quan hệ ngày càng thân thiết với nhau do nhiệt tình của ông – mà sau này tôi gọi là „duyên“, bà K thường chỉ đóng vai trò gần như thầm lặng. Bà để ông viết thư và điện thoại. Chỉ khi đến thăm ông bà, bà mới vào bếp làm thức ăn và cũng ít khi trò chuyện – có lẽ do ông G luôn chủ động trong mọi câu chuyện. Bà thầm lặng đến nỗi, sau khi ông mất tôi đã từng có cảm giác là „có lẽ không còn cần đi Felsberg-Gensungen nữa.

Nhưng tôi đã lầm – một sự nhầm lẫn ấm áp, ngọt ngào. Ông vừa về cõi vĩnh hằng, bà liền vào vai của ông khi trước và lập tức liên lạc thường xuyên với chúng tôi và ấm áp không hề kém thời ông còn sống.

Khi ông sắp ra đi, anh em tôi có tới thăm ông lần cuối. Ông chỉ còn nằm nhưng vẫn nở nụ cười và trò chuyện „bình thường“ cho tới khi chúng tôi từ giã ông. Ít hôm sau ông mất, tôi lại một lần nữa đi và về gần 700km để dự đám tang ông. Có lẽ những cuộc thăm viếng, ở lại đêm rất nhiều lần và điều này đã làm cho bà K cảm động.

Có lần bà bệnh nặng, phải nằm nhà thương ở Bad Wildungen vào hè 2010, tôi và vợ chồng cô 4 đã đến thăm bà trong bệnh viện. Bà đã rất vui và cảm động thấy rõ vì biết là chúng tôi đi khá xa, mất một ngày đi và về mà thời gian là thứ người Đức rất quý nên rất ít khi bỏ ra vì người khác. Còn mình là người Việt Nam nên lúc nào cũng thể hiện nhiều tình cảm hơn, nhất là khi biết người ta thương mình.

Ba má tôi có lần sang Đức thăm con, tôi đều đưa đến thăm ông bà. Tất nhiên là ông bà nhiệt tình, ân cần tiếp đãi dù không thể nói chuyện trực tiếp được với nhau.

Anna, một số phận nghiệt ngã

Bà Katharina có mấy chị em, trong đó cô em út Anna sống ở Hamburg, chỉ cách khu nhà ba má vợ chừng 10 phút đi bộ. Chồng bà Anna là công chức ngành quan thuế đã về hưu sớm. Ông thuộc loại gia trưởng, không nhúng tay vào việc nhà mà để bà Anna làm tất cả. Người Đức sống rất ngăn nắp, sạch sẽ nên tuy ở căn hộ 3 phòng nhưng lúc nào bà cũng bận rộn, dù bà không đi làm vì còn phải chăm sóc cô con gái tật nguyền từ thuở lọt lòng.

Số phận bà Anna nghiệt ngã vì có bầu ngay lúc có scandal về thuốc ngừa thai mà bà chính là nạn nhân thảm thương. Biết sẽ sinh con không bình thường, bà vẫn quyết định sinh nó ra và nuôi con. Thật ra, người trong cuộc mới hiểu rõ vì sao.

Chỉ biết là sau khi sinh Johanna, đời bà trở thành địa ngục. Đứa con không đi và không nói chuyện bình thường được. Đầu óc đã ngưng phát triển ở tuổi lên 2, 3 gì đó cho tới cuối đời. Ông chồng thì không phụ vợ bao nhiêu trong việc nuôi đứa con tật nguyền đáng thương như thế. Bà Anna phải chăm sóc từ ly từ tí. Lúc nhỏ còn ẵm bồng được nhưng thân xác Johanna thì ngày càng lớn như người bình thường nên ngày càng nặng đối với đôi tay gầy yếu của bà Anna.

Mỗi lần đi Felsberg-Gensungen về, thường bà Katharina hay gửi chút quà cho cô em gái, nhờ tôi mang đến căn hộ của cô em. Thú thật, nhiều khi tôi không dám nhìn mặt bà Anna vì thấy quá tội nghiệp.

Cho tới một hôm, không còn nhớ rõ ngày nào, mở radio trên đường về nhà từ hãng, tôi chợt nghe tin tức Hamburg. Bản tin ngắn nói về một người mẹ đã dìm chết con tật nguyền của mình trong bồn tắm ở khu gần Steilshoop. Chợt có linh tính, tới nhà, tôi lập tức gọi điện cho bà Katharina để hỏi thăm. Và sự thật đau lòng đã xảy ra với em và cháu bà.

Sợ sau khi mình mất, đứa con yêu thương gần 50 tuổi với đầu óc của đứa bé 3 tuổi sẽ không được ai chăm sóc và sẽ rất khổ nên trong một lúc tuyệt vọng, mất kìm chế, khi tắm cho Johanna, bà đã đi đến quyết định đau lòng đó.

Vài năm sau, ông chồng Karl-Heinz của Anna cũng ra đi. Bà Anna trở về quê và sống trong một viện dưỡng lão. Vẻ mặt còn thất thần hơn lúc còn Johanna. Bà Anne mất trước chị cả chỉ vài tháng, kết thúc một cuộc đời đau khổ dai dẳng; cuối đời còn sống trong nỗi ân hận triền miên. Chúng tôi còn gặp bà Anna một lần ở Felsberg-Gensungen trước khi bà từ giã cõi đời đau khổ không lâu sau đó.

Bia mộ biến mất

Cuối hè năm ngoái 2024 đã xảy ra một chuyện hết sức đau lòng. Tháng 1, con tôi, Quế Lam và bạn Simon còn đi thăm mộ ông bà. Hơn 4 tháng sau, vợ chồng tôi xuống Tübingen mừng sinh nhật 30 tuổi của con gái. Trên đường A7, chúng tôi ghé thăm mộ, định thắp nén nhang trước mộ ông bà G&K, tôi phát giác ra ngôi mộ biến mất, chỉ còn khoảng đất trống phủ cỏ xanh.

Bàng hoàng, tôi gọi điện thoại hỏi Ulla, cháu gọi bà Katharina bằng dì và là người thừa hưởng di sản của bà. Sau khi gọi nhiều lần, cuối cùng bà Ulla cho biết là đã cho người gỡ bỏ bia mộ. Lý do đưa ra là Ulla lớn tuổi (gần 70) nên không thể chăm sóc mộ (làm cỏ 2 tuần 1 lần vào mùa xuân và hè). Lý do không thuyết phục vì có thể mướn người làm. Mướn rất dễ vì người làm dù sao cũng làm sạch cỏ cho các ngôi mộ cạnh bên. Công việc rất nhẹ và làm trong vòng vài ba phút mà thôi vì mộ là 1 tảng đá hoa cương 1m x 1m chiếm diện tích rất nhỏ. Bà Ulla cũng khóc, bảo là không muốn nhưng phải làm như thế.

Tôi rất bất mãn vì số tiền mướn người làm cỏ quá nhỏ so với gia tài gồm căn nhà, nữ trang và tiền bạc bà Katharina để lại hết cho Ulla. Ulla đã bán ngôi nhà mà bà Katharina xây dựng và hết sức yêu thương ngay sau khi bà K mất. Tôi có đến 2 lần và chứng kiến chủ mới đã đập bỏ căn nhà kỷ niệm mà chúng tôi từng ở lại khi đến thăm. Bồi hồi pha lẫn chút ngỡ ngàng.

Tôi gọi điện thoại cho nhân viên quản lý nghĩa trang Felsberg-Gensungen để xin dời mộ về Hamburg để tiện việc thăm viếng, chăm sóc. Nhưng bà nhân viên bảo là không thể dời hài cốt còn để dưới khoảng đất giờ trở nên trống đó.

Kết

Giờ tôi để hình hai ông bà cạnh hình Ba tôi trên bàn thờ, dù biết người Đức không thờ kiểu người Việt mình. Đức cũng không cúng thức ăn, nước uống, thắp nhang, vái lạy gì cả. Họ chỉ đi thăm mộ người quá cố vào những ngày nhất định trong năm, trồng hoa trên mộ ... và tưởng nhớ trong lòng. Để hai người làm bạn với Ba.

Bộ chén dĩa nói trên được để trong tủ phòng khách, vẫn đẹp và quý giá như ngày đầu tiên và được mang ra dùng khi có khách.

8.1.2026, sau khi xem lại vài album cũ
---------------------------------------------
Die Geschichte einer generationsübergreifenden Freundschaft
Heute sind beide schon lange im „Reich der Unsterblichen“. Herr Günther (*19.5.1922) verstarb am 12.4.2007; Frau Katharina (*4.11.1924) folgte ihm sieben Jahre später, genau an ihrem 90. Geburtstag. Sie brach direkt während ihrer Geburtstagsfeier vor den Gästen zusammen und ging sehr schnell von uns – ein „Glück“, das nicht jedem alten Menschen vergönnt ist.

Der Anfang – Herr Günther Zetzsche

Ich lernte das Ehepaar G&K Ende 1982 oder Anfang 1983 über meine vierte Schwester (Cô Tư) kennen. Sie hatte Herrn G. während ihrer Arbeit in einem Kurort in Baden-Baden kennengelernt, wo er jedes Jahr Urlaub machte. Das bedeutet, meine Freundschaft mit ihm währte 25 Jahre und mit ihr 32 Jahre.

Er war ein Veteran des Zweiten Weltkriegs, geschieden und hatte aus erster Ehe Zwillingsstöchter. In den letzten Kriegstagen verlor er ein Bein, als er mit seinen Kameraden versuchte, die sowjetischen Truppen aufzuhalten, um auf die Ankunft der Alliierten für die „Übergabe“ zu warten. Dies geschah kurz vor Hitlers Kapitulation und Suizid, getrieben von der Überzeugung: „Lieber von den Amerikanern, Engländern und Franzosen besetzt werden als von der Sowjetunion wie die osteuropäischen Staaten
Tschechoslowakei, Ungarn, Ukraine, Polen oder die drei baltischen Länder...“

Er erzählte mir, dass er sich nach dem Krankenhausaufenthalt – es herrschte bereits Frieden in Europa – für ein Lehramtsstudium in Flensburg, nahe der Nordgrenze, einschrieb. Er studierte und arbeitete gleichzeitig als Schaffner bei der Bahn. Damals war die deutsche Wirtschaft nach sechs Jahren verheerenden Krieges noch völlig erschöpft.

Nach dem Abschluss zog er in die Region Felsberg-Gensungen, um als Realschullehrer zu arbeiten. Dieses Dorf war auch die Heimat von Frau Katharina, die ebenfalls Lehrerin war, allerdings an der Grundschule. Katharina hatte einst einen Verlobten, einen Soldaten, den Hitler nach Russland geschickt hatte und der nie zurückkehrte. Wie Hunderttausende andere junge Deutsche damals blieb er verschollen, ohne jemals ein Lebenszeichen an die Familie senden zu können.

Die beiden lernten sich kennen und heirateten erst im fortgeschrittenen Alter im Jahr 1972, weshalb sie keine gemeinsamen Kinder hatten. Sie lebten bis an ihr Lebensende sehr glücklich zusammen in einem hübschen Haus am Hang, das Katharina von ihrem Lehrerinnengehalt „Stein für Stein“ eigenhändig hatte bauen lassen.

Nach der Gründung der Bundesrepublik Deutschland (BRD) erholte sich die deutsche Wirtschaft dank der Intelligenz, des Fleißes und der hohen Disziplin der Bevölkerung rasend schnell. Aus den Trümmern von 1945 – Hamburg, die zweitgrößte Stadt, war zu 85 % zerstört – wurde Deutschland innerhalb von 15 Jahren Wiederaufbau zu einer Supermacht.

Dank demokratischer Strukturen wurde der Wohlstand recht gleichmäßig auf alle Bevölkerungsschichten verteilt. Das Gehalt der Lehrer war sehr hoch, weshalb Frau K. sich ein eigenes Haus leisten konnte. Ich erinnere mich noch, als wir das erste Mal bei ihnen übernachteten, sagte meine älteste Tochter Trúc Giang, sie habe noch nie in einem so schönen Haus gewohnt. Das Ehepaar lachte herzlich und erfreut darüber.

Als Kriegsbeschädigter erhielt Herr Günther eine sehr großzügige Entschädigung vom deutschen Staat, weshalb er sich jedes Jahr mehrere Wochen Kur in der wohlhabenden und berühmten Stadt Baden-Baden in Süddeutschland leisten konnte. 1983 gehörte das Ehepaar bereits zum gehobenen Mittelstand, obwohl sie schon im Ruhestand waren.

Herr G. war ein sehr geselliger Mensch. Er schloss leicht Freundschaften und erwiderte Herzlichkeit stets mit großer Begeisterung. Durch diese Art kannte er sehr viele Leute. Meine vierte Schwester war eine davon. Als er erfuhr, dass sie erst kurz in Deutschland und noch sehr jung war, riet er ihr, Krankenschwester zu werden – ein Beruf, der in Deutschland dringend gesucht wurde (viele südkoreanische Frauen arbeiteten damals als Krankenschwestern in Deutschland). Herr G. kümmerte sich eifrig um alle Papiere, damit sie kurz darauf in Göttingen ihre Ausbildung beginnen konnte.

Beginn einer Freundschaft mit zwei pensionierten Lehrern
Anfang 1983 kam ich nach Wolfhagen, um einen Abiturskurs für Ausländer zu besuchen, nur etwa 30 km von Felsberg-Gensungen entfernt. Da er wusste, dass meine Schwester einen Bruder in der Nähe hatte, kontaktierte er mich und fuhr mich und meine Frau T. zu sich nach Hause. Ich ahnte nicht, dass dies der Beginn einer ein Vierteljahrhundert währenden Freundschaft mit ihm und einer 32-jährigen mit seiner Frau sein würde.

Abgesehen von unseren Besuchen rief er fast jede Woche an, um sich nach uns zu erkundigen und alte sowie neue Geschichten zu erzählen. Er hatte so viele Kontakte, dass er jedes Jahr zu Weihnachten über hundert „Weihnachtsbriefe“ in alle Welt verschickte. Jedes Jahr erhielt auch ich einen. Anfangs war seine Schrift schwer zu lesen – schnörkelig und eng verbunden, wie es damals bei Deutschen üblich war – aber mit der Zeit gewöhnte ich mich daran. Neben den Telefonaten schrieb er mir mindestens einen Brief pro Monat – und natürlich antwortete ich ihm. Zu besonderen Anlässen wie Geburtstagen, dem vietnamesischen Neujahrsfest oder Ostern gab es immer Post von ihm.

Ein außergewöhnlich großzügiges und herzliches Ehepaar
Deutsche sind oft sehr vorsichtig mit Geld. Beim Einkaufen warten sie manchmal auf ein paar Pfennig (später Cent) Wechselgeld, egal wie wohlhabend sie sind. Geht man zusammen essen, zahlt meist jeder selbst. Doch uns gegenüber waren sie finanziell äußerst großzügig. Jedes Mal, wenn wir sie besuchten, bestanden sie darauf, uns die Benzinkosten für die Hin- und Rückfahrt zu erstatten. Zudem luden sie uns in Restaurants ein und überhäuften uns mit Geschenken. Ablehnen war zwecklos. Die Kinder kamen nie zu kurz; unsere vier Kinder sowie An und Nam (die Kinder meiner Schwester) erinnern sich sicher noch an die Ostereiersuche in ihrem Garten.

Zu unserer Hochzeit freuten sie sich sehr über die Einladung. Ihr Hochzeitsgeschenk war das wertvollste von allen Verwandten und Gästen. Ich erinnere mich genau, weil ich so überrascht und gerührt war. Neben einem fünfbändigen technischen Lexikon, einer dreibändigen Andersen-Märchensammlung und teurer Bettwäsche schenkten sie uns 1000 D-Mark – damals eine beträchtliche Summe.

Als ich 1987 an Tuberkulose erkrankte und fast einen Monat im Krankenhaus lag, fuhren sie 330 km, um mich zu besuchen. Sie luden uns wieder zum Essen ein – ich erinnere mich, es war im Einkaufszentrum Hamburger Straße. Dort „zwangen“ sie mich, eine dicke Daunenjacke zu kaufen. Die waren damals neu und sehr teuer; ich weiß noch, sie kostete über 200 DM. Bis zu diesem Zeitpunkt und auch viele Jahrzehnte danach hatte ich nie wieder ein so teures Kleidungsstück gekauft.

Nachdem er gegangen war, schenkte mir Frau K. einen Umschlag mit 5000 Euro. Sie sagte, das sei dafür, dass ich vier Flugtickets kaufen könne, um meine Heimat zu besuchen. Zudem hinterließ sie mir ein wunderschönes und teures Porzellanservice, das wir immer benutzt hatten, wenn wir Gäste im Hause haben.

Man muss dazu sagen: Obwohl sie viele Kontakte pflegten, waren Besuche mit Übernachtung in Felsberg-Gensungen bei ihnen selten. Die beiden leiblichen Töchter von Herrn G. hatten ein sehr kühles Verhältnis zu ihm, obwohl er ihnen beim Hauskauf und zu anderen Anlässen viel Geld geschenkt hatte. Es ging so weit, dass sie nach seinem Tod nicht einmal zur Beerdigung kamen.

Das Ehepaar hatte früher auch einen jungen Mann aus der DDR „freigekauft“. Ich weiß nicht, weshalb er inhaftiert war, aber „Freikaufen“ bedeutete, dass die Bundesrepublik eine hohe Summe zahlte, damit Häftlinge in den Westen entlassen wurden. Ich habe diesen Mann, Ronald, bei ihnen zu Hause getroffen. Sie halfen ihm sehr bei seinem Neuanfang im Westen. Doch auch Ronald kam weder zur Beerdigung von Frau K. noch – soweit ich weiß – zu der von Herrn G.

Jedes Jahr zu Weihnachten schickten sie viele Pakete mit Geschenken an Verwandte und Freunde in der DDR – sogar frische Apfelsinen waren dabei, da es dort nur heimisches Obst gab. Südfrüchte wie Bananen, Orangen, Kiwis oder Wassermelonen suchte man in den dortigen Staatsläden vergeblich.

Tante Katharina
In der Freundschaft, die durch den Eifer von Herrn G. immer enger wurde (was ich später als „Schicksal“ bezeichnete), spielte Katharina meist eine eher stille Rolle. Sie überließ ihm das Briefeschreiben und das Telefonieren. Wenn wir sie besuchten, war sie meist in der Küche beschäftigt und sprach wenig – vielleicht auch, weil Herr G. in jedem Gespräch sehr dominant war. Sie war so still, dass ich nach seinem Tod kurz dachte: „Vielleicht ist es nun nicht mehr nötig, nach Felsberg-Gensungen zu fahren.“

Doch ich irrte mich – ein warmer, süßer Irrtum. Kaum war er in die Ewigkeit gegangen, übernahm sie seine Rolle. Sie hielt sofort regelmäßig Kontakt zu uns, und ihre Herzlichkeit stand der ihres Mannes in nichts nach.

Als es mit ihm zu Ende ging, besuchten mein Bruder und ich ihn ein letztes Mal. Er konnte nur noch liegen, aber er lächelte und plauderte „ganz normal“ mit uns, bis wir uns verabschiedeten. Wenige Tage später verstarb er. Ich fuhr erneut die fast 700 km (hin und zurück), um an seiner Beerdigung teilzunehmen. Vielleicht waren es diese vielen Besuche und Übernachtungen, die Katharina so sehr berührten.

Als sie im Sommer 2010 schwer erkrankte und im Krankenhaus in Bad Wildungen lag, besuchten meine Frau und das Ehepaar meiner Schwester sie. Sie war sichtlich gerührt, da sie wusste, dass wir einen ganzen Tag für die weite Fahrt opferten – Zeit ist etwas, das Deutsche sehr schätzen und selten für andere „verschwenden“. Wir als Vietnamesen zeigen unsere Gefühle oft deutlicher, besonders wenn wir wissen, dass uns jemand liebt.

Wann immer meine Eltern aus Vietnam zu Besuch in Deutschland waren, brachte ich sie zu den beiden. Natürlich wurden sie herzlich bewirtet, auch wenn sie sich nicht direkt unterhalten konnten.
Anna – Ein schweres Schicksal
Katharina hatte mehrere Geschwister. Ihre jüngste Schwester Anna lebte in Hamburg, nur etwa 10 Gehminuten vom Haus meiner Schwiegereltern entfernt. Annas Mann war ein frühpensionierter Zollbeamter, ein sehr patriarchaler Typ, der im Haushalt keinen Finger rührte. Obwohl sie nur eine Dreizimmerwohnung hatten, war Anna ständig beschäftigt, auch weil sie ihre Tochter pflegte, die von Geburt an schwerbehindert war.

Annas Schicksal war grausam. Sie wurde während des Contergan-Skandals schwanger und war eines der tragischen Opfer. Obwohl sie wusste, dass das Kind nicht gesund zur Welt kommen würde, entschied sie sich für die Geburt. Nur wer selbst in dieser Lage ist, versteht wohl wirklich, warum.

Nach der Geburt von Johanna wurde ihr Leben zur Hölle. Das Kind konnte weder laufen noch normal sprechen. Geistig blieb Johanna auf dem Stand einer Zwei- oder Dreijährigen stehen. Der Ehemann half kaum bei der Pflege. Anna musste alles allein tun. Als Johanna klein war, konnte sie sie noch tragen, doch Johanna wuchs zu einer erwachsenen Frau heran und wurde für Annas schwache Arme viel zu schwer.

Jedes Mal, wenn ich aus Felsberg-Gensungen zurückkam, gab Katharina mir Geschenke für ihre Schwester mit. Ehrlich gesagt, ich wagte manchmal kaum, Anna in die Augen zu schauen, so leid tat sie mir.

Bis zu jenem Tag – ich weiß das Datum nicht mehr genau –, als ich auf der Heimfahrt von der Arbeit im Radio die Nachrichten aus Hamburg hörte. Es gab eine Kurzmeldung über eine Mutter, die ihr behindertes Kind in der Badewanne in der Nähe von Steilshoop ertränkt hatte. Ich hatte eine dunkle Vorahnung, eilte nach Hause und rief sofort Katharina an. Und die schreckliche Wahrheit bestätigte sich.

Aus Angst davor, wer sich nach ihrem eigenen Tod um die fast 50-jährige Tochter mit dem Verstand einer Dreijährigen kümmern würde, hatte sie in einem Moment der Verzweiflung und des Kontrollverlusts beim Baden diese herzzerreißende Entscheidung getroffen.

Einige Jahre später starb auch ihr Mann Karl-Heinz. Anna kehrte in ihre Heimat zurück und lebte in einem Altenheim. Ihr Gesichtsausdruck war noch verstörter als zu Johannas Lebzeiten. Anna starb nur wenige Monate vor ihrer großen Schwester Katharina und beendete damit ein Leben voller Leid und lebenslanger Reue. Wir trafen Anna noch ein letztes Mal in Felsberg-Gensungen, kurz bevor sie diese Welt verließ.

Der verschwundene Grabstein
Ende letzten Sommers (2024) geschah etwas sehr Trauriges. Im Januar waren meine Tochter Quế Lam und ihr Freund Simon noch am Grab der beiden gewesen. Vier Monate später fuhren meine Frau und ich nach Tübingen, um den 30. Geburtstag unserer Tochter zu feiern. Auf dem Weg über die A7 hielten wir am Friedhof an, um eine Räucherkerze für G&K anzuzünden. Doch ich stellte fest, dass das Grab verschwunden war. Dort war nur noch eine leere, grün überwachsene Fläche.

Fassungslos rief ich Ulla an, Katharinas Nichte und Alleinerbin. Nach mehreren Versuchen erreichte ich sie, und sie gestand, dass sie den Grabstein entfernen ließ. Der Grund: Ulla ist fast 70 und könne sich nicht mehr um die Grabpflege kümmern (alle zwei Wochen Unkraut jäten). Für mich war das kein überzeugender Grund, da man jemanden dafür bezahlen kann. Es wäre einfach gewesen, da Friedhofsgärtner ohnehin die Nachbargräber pflegen. Das Grab war nur eine 1m x 1m große Granitplatte – eine Arbeit von wenigen Minuten. Ulla weinte am Telefon und sagte, sie habe es nicht gewollt, aber gemusst.

Ich war sehr verärgert, denn die Kosten für die Grabpflege wären winzig gewesen im Vergleich zu dem Erbe aus Haus, Schmuck und Geld, das Katharina ihr hinterlassen hatte. Ulla hatte das Haus, das Katharina so geliebt hatte, sofort nach deren Tod verkauft. Ich war zweimal dort und musste mitansehen, wie die neuen Besitzer das Haus abrissen. Es war ein schmerzhafter Anblick.

Ich rief die Friedhofsverwaltung in Felsberg-Gensungen an und fragte, ob ich das Grab nach Hamburg umbetten könne, um es selbst zu pflegen. Doch die Mitarbeiterin erklärte mir, dass man die Überreste, die unter der nun leeren Fläche liegen, nicht einfach umbetten darf.

Schlusswort
Jetzt stehen die Fotos der beiden neben dem Bild meines Vaters auf unserem Altar, auch wenn ich weiß, dass Deutsche keine Ahnenverehrung in dieser Form kennen. Sie opfern kein Essen oder Trinken, zünden keine Räucherstäbchen an und verbeugen sich nicht. Sie besuchen die Gräber an bestimmten Tagen, pflanzen Blumen... und gedenken der Verstorbenen im Herzen. Nun können sie meinem Vater dort oben Gesellschaft leisten.

Das Porzellanservice steht in unserer Vitrine im Wohnzimmer, immer noch so schön und kostbar wie am ersten Tag. Wir holen es heraus, wann immer wir Gäste haben.

8.1.2026, nach dem Sichten alter Alben

Donnerstag, 8. Mai 2025

 



Nạn nhân của cuộc tẩy não khủng khiếp

Đừng cười dân Bắc Hàn khóc cha con họ Kim chết. Lúc Hồ Chí Minh chết, nhiều người dân miền Bắc cũng đã khóc như thế.

Thỉnh thoảng người ta vẫn nghe câu trách hờn rằng, đại khái dân Việt hèn nhát, cúi đầu sống như đàn vịt sẵn sàng bị vặt lông mà không dám kêu.

Trách mãi những câu thế này chỉ có tác dụng làm mình đỡ tức, nhưng không mang lại kết quả tích cực gì hết.

Người dân bị chế độ điều kiện hóa, bị khủng bố, bị bịt tai, bịt miệng quá lâu nên mới trở nên ù lì, sợ hãi, ích kỷ. Nếu mình sống trong điều kiện như thế thì liệu mình có thoảt khỏi cái vòng kim cô ác độc, tàn bạo đó không?

Trả lời không phải để chấp nhận mà để thông cảm và kiên quyết hơn trong việc giải quyết tận gốc đại nạn của dân tộc.

Suốt 100 năm bị Pháp đô hộ, người dân miền Bắc đã không bao giờ ngừng đứng lên chống lại thực dân Pháp dù máu chảy đầu rơi suốt 100 năm đó.

Nhìn như thế để thấy chế độ cộng sản thâm độc, đáng nguyền rủa đến nhường nào. Nó hủy hoại chí khí cả một dân tộc, biến những người can đảm thành hèn nhát, biến người lương thiện thành trộm cướp hung dữ. Tội chúng lấy hết nước biển Đông cũng không rửa sạch.

Những ai may mắn không bị trở thành nạn nhân của sự nhồi sọ này thì nên mừng và tích cực hơn để tìm cách cứu những nạn nhân đã bị nhồi sọ vì dù sao họ cũng là nạn nhân đáng thương.

Bạn có thể cười người dân Bắc Hàn đấm ngực gào khóc khi cha con họ Kim chết, nhưng nên nhớ rằng nếu họ sinh ra dưới vĩ tuyến 38 phân chia Nam – Bắc Hàn, họ đã không trở nên máy móc, ngây ngô như thế.

Tôi không thù ghét cậu bé Dương Đức Thịnh vì cậu ta là nạn nhân của cái guồng máy tẩy não. Nhưng tôi ủng hộ việc trừng phạt cậu để ban tuyên láo thất bại trong âm mưu hạ cờ vàng, biểu tượng cho người Việt tự do và là tụ điểm của những trái tim không chấp nhận độc tài vc - kể cả của người trong nước.

Đừng quên là ban tuyên láo làm đạo diễn cho việc cậu Thịnh xúc phạm lá cờ vàng bằng lời lẽ mà không cha mẹ đàng hoàng nào muốn con mình biết đến, nói gì đến sử dụng. Hàng chục ngàn dư luận viên ào ào bênh vực cậu ta và chửi bới người phê bình hành động cực đoan này này suốt hơn 48 tiếng đồng hồ là bằng chứng không thể chối cãi của bàn tay lông lá đàng sau mang tên ban tuyên láo.

Donnerstag, 10. April 2025



CÓ NÊN TỰ HÀO VỀ HUYỀN SỬ?

Đây là những suy nghĩ rất cởi mở, thông thoáng về một đề tài lớn của lịch sử Việt Nam, nghĩa là liên quan đến từng người (có quan tâm).
Đã từ rất lâu tôi cũng không hãnh diện về „lịch sử gần 5000 năm văn hiến“ và là „con rồng cháu tiên“ vì thấy nó mơ hồ, nặng về huyền sử hơn là thực sử. Hãnh diện, tự hào nếu có là vì người Việt đã từng chứng minh khả năng chẳng thua kém người Hàn trong thời VNCH. Thêm vào đó là sự thành công về mọi mặt của cộng đồng người Việt tị nạn vc ở ngoại quốc. Một số chính giới Đức từng khen ngợi năng lực của học sinh Việt Nam bằng những thống kê như bài báo của „Die Welt“, "Deutsche Welle", "Die Zeit" ... https://www.welt.de/.../Die-besten-deutschen-Schueler...
Cám ơn tác giả, bác GS TS Hoàng Cơ Định đã viết bài rất có giá trị này. Các bạn đọc bài này có đồng ý với những suy nghĩ của bác Định không?
++++++++++++++++++++++++++++
Lịch sử nước ta bắt đầu từ bao giờ?
Hoàng Cơ Định
Lịch sử của một quốc gia hay một dân tộc cũng như lý lịch của một con người, điều quan trọng nhất là phải trung thực, không thể nêu lên những chi tiết huyễn hoặc, hoang đường rồi tự nhận đó là lý lịch, là lịch sử, để tự đề cao hay hãnh diện. Con số 4 ngàn năm văn hiến mà người Việt vẫn quen tự nhận là điều cần phải được làm sáng tỏ vì trong số 4 ngàn năm này, có 2 ngàn năm đầu rất mù mờ, hoang đường và vô lý. Nếu chúng ta tự lừa dối để nhận bừa các sự tích hoang đường là khởi đầu của Việt sử thì có khác gì đồng lõa với việc bịa đặt các sự kiện ngày hôm nay để dối gạt các thế hệ sau này. Kết luận là người Việt cần dứt khoát không kể tới giai đoạn mấy ngàn năm, thường được gọi là Huyền Sử, vẫn được coi là khởi đầu của Việt sử.
Các sách Việt sử khi chép lại đoạn huyền sử này đều ghi rõ đó chỉ là những truyền tụng hoang đường, không minh danh ai là tác giả, không căn cứ vào bất cứ một chứng tích nào, nhưng vẫn cứ coi đó là bắt đầu của Việt sử, và tiếp tục duy trì một số chuyện vô lý, không có thật là nguồn cội của dân tộc chúng ta.
Trong tư duy của nhân loại văn minh, cần dẹp bỏ những niềm hãnh diện mơ hồ như "Con Rồng Cháu Tiên", 4.000 năm văn hiến để đón nhận Việt sử qua các chi tiết được ghi nhận rõ rệt với các chứng tích cụ thể lưu lại trên lãnh thổ nước ta. Đồng bào ta sẽ có nhiều người cảm thấy một niềm mất mát, nhưng xét cho cùng chúng ta chỉ mất những gì chúng ta chưa hề có. Nay, bảo vệ một di sản từ thời Vua Hùng dựng Nước cho xứng đáng cũng đã là một sứ mạng lịch sử vô cùng nặng nề và quan trọng.
Lịch sử Việt Nam chỉ thực sự khởi đầu vào thế kỷ thứ 7 trước Công Nguyên với 15 bộ tộc tại thung lũng sông Hồng được Quốc Tổ Hùng Vương tập hợp lại, lập nên nước Văn Lang. Đây là chi tiết đã được ghi lại trong cuốn Việt sử đầu tiên dưới thời nhà Trần vào thế kỷ 13 có tên là Đại Việt Sử Lược. Không nên tiếp tục thụ động chấp nhận điều gọi là truyền thuyết vô lý và hoang đường về Họ Hồng Bàng, cho là Hùng Vương là cháu sáu đời của một ông vua Tàu, đã được cho sang làm vua nước Văn Lang.
Sau đây, xin đề cập lại nội dung câu chuyện về Họ Hồng Bàng để cùng thấy rõ các chi tiết phi lý phản khoa học và không có gì đáng hãnh diện để gắn vào lịch sử nước ta. Câu chuyện Họ Hồng Bàng chỉ giúp cho những ai muốn chứng minh rằng nước Việt vốn dĩ chỉ là một phần của nước Tàu.
TRUYỀN THUYẾT về HỌ HỒNG BÀNG
Theo truyền thuyết này thì có một vị vua Tàu tên là Đế Minh, khi đi tuần thú phương Nam đã gặp một Nàng Tiên và có một người con với bà Tiên, đặt tên là Lộc Tục. Vua Đế Minh vốn dĩ đã có một hoàng tử tên là Đế Nghi, nên đã chia nước làm hai phần, truyền ngôi cho Đế Nghi làm vua phương Bắc và Lộc Tục làm vua tại phương Nam, lãnh thổ này có tên là nước Xích Quỷ. Vua Đế Nghi có con là Đế Lai và vua Lộc Tục có con là Sùng Lãm.
Từ Đế Minh tới Sùng Lãm là một chuỗi chuyện bất thường và huyễn hoặc.
Tạm chấp nhận chi tiết vua Đế Minh kết duyên được với một Nàng Tiên, hay một người đàn bà đẹp như Tiên. Qua tới Lộc Tục, còn được gọi là Kinh Dương Vương thi ngài đã xuống được dưới đáy biển để lấy con gái vua Thủy Tề và sanh ra Sùng Lãm, thi đây thật là chuyện hoang đường. Vì chúa tể dưới biển thì phải là Rồng nên Sùng lãm tự cho mình có nguồn gốc Rồng, khi lên ngôi vua ngài lấy hiệu là Lạc Long Quân.
Qua tới Lạc Long Quân, chuyện hoang đường đã được nâng cấp thêm nhiều bậc. Huyền sử kể là Lạc Long Quân có tài biến hóa thành người khác. Trong khi ngài vắng mặt thì vua Đế Lai (anh con chú con bác với Lạc Long Quân) chiếm nước Xích Quỷ. Trở về ngài lấy lại nước và lấy luôn bà Âu Cơ, con gái của vua Đế Lai, làm vợ. Như vậy là Lạc Long Quân đã lấy người cháu kêu bằng chú, con của ông anh cùng họ. Lạc Long Quân và Âu Cơ đã sinh được 100 con trong một cái bọc, thế là thêm 1 chuyện hoang đường nữa. Nhưng chuyện vô lý nhất là khi Lạc Long Quân không muốn tiếp tục chung sống với bà Âu Cơ, ngài lấy cớ là dòng giống Rồng, bảo bà Âu Cơ là dòng dõi Tiên nên không thể chung sống, chia đôi 100 người con, 50 theo cha xuống biển và 50 theo mẹ lên núi.
Nếu Lạc Long Quân tự nhận là dòng giống Rồng thì cũng tạm được vì thân mẫu của ngài là con của vua Thủy Tề, nhưng bảo Âu Cơ là dòng dõi Tiên thì không đúng.
Bà Âu Cơ là con vua Đế Lai, cháu nội vua Đế Nghi. Vua Đế Nghi là vị hoàng tử trần tục của vua Đế Minh, trước khi vua Đế Minh đi tuần thú phương Nam. Nếu quả thật bà thứ phi xinh đẹp của vua Đế Minh là một nàng Tiên thì chỉ có Kinh Dương Vương là 1/2 Tiên và Lạc Long Quân là 1/4 Tiên. Lạc Long Quân yêu cầu Âu Cơ đưa 50 con lên núi vi bà là dòng dõi Tiên là điều không hợp lý và bất công.
Điều vô lý sau chót trong câu chuyện Họ Hồng Bàng là sự việc Lạc Long Quân đã cho người con cả là Hùng Vương sang làm vua nước Văn Lang. Ta tự hỏi trong số 100 con từ cùng một bọc, ai sẽ là "con cả", và trong 2 nhóm 50 con lên núi, 50 con xuống biển, nhóm nào ... thiếu một người ? Chưa kể trong các di tích về Hùng Vương tuyệt đối không có di tích nào liên hệ tới 99 vị hoàng tử anh em cùng một bọc. Di tích về Hùng Vương có ghi lại là Quốc Tổ của người Lạc Việt lên ngôi vào khoảng năm 700 Trước Công Nguyên trong khi câu chuyện về Kinh Dương Vương xẩy ra vào năm 2879 Trước Công Nguyên, một khoảng cách thời gian hơn 2000 năm về trước.
Về cốt lõi, câu chuyện về Họ Hồng Bàng cho thấy nước Văn Lang chỉ là một chư hầu của Tàu và vua Tàu đã cho con cháu qua cai trị nước này. Như vậy liệu câu chuyện huyền sử Họ Hồng Bàng có thể nào là điều chắp nhặt truyền miệng từ mấy ngàn năm hay chỉ là câu chuyện do quan Tàu đặt ra để dễ dàng cai trị người Việt trong thời nước ta bị Bắc thuộc?
Điều cần lưu ý là bộ Việt sử đầu tiên của nước ta soạn dưới thời nhà Trần vào thế kỷ 13 không ghi phần về Họ Hồng Bàng, đoạn huyền sử này chỉ được thêm vào trong bộ Việt sử soạn ra vào thế kỷ 15, sau thời kỳ nước ta bị Bắc thuộc lần thứ 4 bởi nhà Minh. Trong giai đoạn Bắc thuộc này, Minh triều đã triệt để thi hành chủ trương đồng hóa người Việt bằng nhiều thủ đoạn, tàn độc hơn cả ngăn cấm mọi phong tục, bắt dân chúng phục sức như người Tàu và thiêu hủy mọi sách vở, chữ viết của người Việt. Vì vậy có nhiều xác suất truyền thuyết về Họ Hồng Bàng đã được tạo dựng ra trong giai đoạn này và người Việt đã chấp nhận câu chuyện vô lý hoang đường "Họ Hồng Bàng" là phần mở đầu của Việt sử.
Vì sự trung thực là yếu tố quan trọng nhất của lịch sử, người Việt không nên tiếp tục nhận sằng những truyền thuyết hoang đường để có niềm kiêu hãnh vu vơ như "Dòng dõi Con Rồng Cháu Tiên", hoặc thêm vào lịch sử dân tộc một đoạn trống 2000 năm để tăng thêm bề dài ... văn hiến.
Tổ tiên chúng ta đã để lại không thiếu gi những trang sử oai hùng để con cháu hãnh diện và noi gương. Không nên tiếp tục dùng câu chuyện hoang đường Họ Hồng Bàng để mở đầu cho Việt sử. Lịch sử Việt Nam chỉ thực sự khởi đầu vào thế kỷ thứ 7 trước Công Nguyên với 15 bộ tộc tại thung lũng sông Hồng được Quốc Tổ Hùng Vương tập hợp lại, lập nên nước Văn Lang.
Hoàng Cơ Định
Nhân ngày kỷ niệm Quốc Tổ 10 tháng 3 Âm Lịch (Ngày Dương Lịch năm nay là: 2/4/2020)